GIỚI THIỆU ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC TẠI ĐHBK

1. Giới thiệu

Trường Đại học Bách khoa – Đại học Quốc gia TP.HCM (ĐHBK) là trường đại học giảng dạy và nghiên cứu chất lượng cao tại Việt Nam. Quy mô hiện tại của ĐHBK dao động trong khoảng 24.000 sinh viên trình độ đại học, 4.000 học viên cao học (HVCH) và nghiên cứu sinh (NCS). Chú trọng phát triển đào tạo sau đại học (SĐH) là chiến lược phát triển của ĐHBK nhằm đào tạo đội ngũ chuyên gia, các nhà khoa học đóng vai trò quan trọng vào quá trình nghiên cứu, phát triển khoa học công nghệ, đóng góp tăng trưởng nguồn tài nguyên tri thức, tăng cường tiềm lực phát triển kinh tế và xã hội cho đất nước. Năm 2015 đánh dấu cột mốc 35 năm đào tạo SĐH của Trường với con số hơn 200 tiến sĩ và 10.000 thạc sĩ đã được đào tạo. Hiện nay, ĐHBK có 38 ngành bậc thạc sĩ và 30 ngành bậc tiến sĩ.

2. Các thành quả đáng ghi nhận trong đào tạo SĐH của ĐHBK
2.1. Hoàn thiện công tác tổ chức và quản lý đào tạo

Công tác tổ chức và quản lý đào tạo liên tục cải tiến để đạt được hiệu quả. Cụ thể, Phòng Đào tạo SĐH được thành lập để quản lý các công tác liên quan đến đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ. Bên cạnh đó, Hội đồng Học vụ SĐH cũng được thành lập vào năm 2002, đóng góp các ý kiến quan trọng về chiến lược cũng như các công tác khác liên quan đến đào tạo SĐH. Hệ thống các văn bản pháp qui phân định rõ cơ cấu tổ chức, cơ chế vận hành, chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận và cá nhân liên quan đã được hoàn thiện.

2.2. Tin học hóa trong quản lý

Đến năm 2004, ĐHBK đã tự nghiên cứu phát triển hoàn thiện phần mềm với đầy đủ chức năng quản lý và tra cứu thông tin phục vụ đào tạo SĐH. ĐHBK là đơn vị duy nhất trong ĐHQG TP.HCM đã tin học hóa được toàn bộ công tác quản lý đào tạo SĐH từ khâu tuyển sinh, quản lý chương trình đào tạo, quản lý giáo vụ, quản lý học vụ của HVCH và NCS từ lúc nhập học đến lúc tốt nghiệp và cung cấp đầy đủ thông tin về đào tạo SĐH trên mạng.

2.3. Cải tiến nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy

Các cải tiến quan trọng trong những năm gần đây gồm có:

• Năm 2003, toàn bộ CTĐT bậc thạc sĩ đã được thống nhất với khung khối lượng là 70 đơn vị học trình; chuẩn hóa thời gian đào tạo thạc sĩ thành 2 năm tập trung; tất cả các môn học đã có ít nhất 30% tỷ lệ nội dung dành cho thực hành, thí nghiệm hoặc nghiên cứu chuyên đề;

• Năm 2005, ĐHBK bắt đầu áp dụng thí điểm chương trình đào tạo theo phương thức nghiên cứu cho 12 chuyên ngành;

• Năm 2007, hệ đào tạo tín chỉ với tổng số tín chỉ của toàn khóa đào tạo thạc sĩ là 58 tín chỉ được áp dụng; hầu hết các chuyên ngành đều được đào tạo theo 2 phương thức, giảng dạy môn học (by course) và nghiên cứu (by research) với yêu cầu HV phải có công bố công trình khoa học khi tốt nghiệp;

• Chương trình đào tạo được bổ sung, điều chỉnh định kỳ 2 năm 1 lần.

2.4. Nâng cao năng lực ngoại ngữ cho người học

Chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế (TOEFL, IELTS, …) là điều kiện bắc buộc để được tốt nghiệp, cụ thể TOEIC > 550; TOEFL > 450; IELTS > 5.0.

2.5. Công tác đảm bảo chất lượng

Từ năm học 2005-2006, Trường bắt đầu công tác lấy ý kiến thăm dò HVCH khi tốt nghiệp về đánh giá khóa học để nhà trường từng bước nâng cao chất lượng đào tạo, cải tiến cung cách phục vụ. Bắt đầu triển khai lấy ý kiến thăm dò và đánh giá giảng viên tham gia đào tạo cao học vào năm 2006, và tiến hành định kỳ vào mỗi học kỳ của năm học. Từ năm 2012 đến nay, số phiếu đánh giá khóa học thu được tất cả 3.945 mẫu có giá trị, được xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS/AMOS. Nhìn chung, đánh giá của học viên về sự hài lòng đối với các yếu tố chất lượng dịch vụ (chất lượng giảng viên, chất lượng nhân viên hành chính, và cơ sở vật chất); các giá trị (giá trị tri thức, giá trị cảm xúc, giá trị xã hội, đánh đổi tài chính, và đánh đổi phi tài chính); và hình ảnh nhà trường đều nằm ở mức khá – tốt. Kết quả nghiên cứu giúp nhà Trường đánh giá được chất lượng giáo dục SĐH theo các góc độ cảm nhận khác nhau của học viên đồng thời giúp cho các nhà quản lý trong việc cải tiến chất lượng dịch vụ đào tạo và đưa ra chính sách thích hợp nhằm thu hút thêm thí sinh thi tuyển vào trường ĐHBK.

2.6. Liên thông trong đào tạo

Năm học 2003-2004, ĐHBK đã tổ chức 05 hội thảo “Tăng cường liên thông, liên kết nội dung chương trình, đội ngũ đào tạo SĐH” ở cấp liên khoa - liên ngành và 01 hội thảo cấp trường. Qua đó, 101 môn học ở các chuyên ngành đã dược thống nhất thành 37 môn học liên thông cấp Trường. Từ khóa đào tạo thạc sĩ 2009 trở đi, Trường đặc biệt quan tâm đến việc liên thông đào tạo từ bậc đại học đến sau đại học, hoàn toàn phù hợp với thông lệ các nước trên thế giới.

2.7. Gắn kết giữa đào tạo và NCKH

Bắt đầu từ năm 2006, tất cả các đề tài NCKH cấp ĐHQG trở lên, Trường qui định phải dành một phần kinh phí nghiên cứu phục vụ đào tạo SĐH thông qua hướng dẫn HVCH và NCS. Từ năm học 2004-2005, ĐHBK có chính sách khuyến khích tập thể cán bộ hướng dẫn luận văn thạc sĩ và học viên tham gia hội nghị khoa học cấp quốc gia, quốc tế, đăng kết quả luận văn trên tạp chí khoa học chuyên ngành bằng qui định điểm thưởng khi bảo vệ luận văn thạc sĩ và cấp thù lao hỗ trợ. Từ con số khá khiêm tốn của năm 2006 là 51 bài báo, cho đến năm 2015, số bài báo của NCS và HVCH là 254 bài. Từ năm học 2007-2008, Trường bắt đầu triển khai chương trình hỗ trợ kinh phí NCKH cho HVCH học theo phương thức nghiên cứu và NCS với kinh phí bình quân hàng năm từ 400 triệu đến 500 triệu đồng với yêu cầu sản phẩm nghiên cứu phải được công bố quốc tế. Hiện nay, chương trình này đang tạo tiền đề cho các NCS, HVCH làm quen với môi trường NCKH nghiêm túc và công bố những báo cáo khoa học mang tầm quốc tế. Từ năm 2009, tiếp theo thành công dự án hợp tác quốc tế với JICA – Nhật Bản về “Nâng cao năng lực NCKH của trường ĐHBK gắn kết với sự phát triển kinh tến xã hội ở cộng đồng địa phương” (dự án JICA giai đoạn 1), trường ĐHBK tiếp tục triển khai giai đoạn hai của dự án JICA (SUPREM-HCMUT - Strengthening University Project for Research-Based Education Model in Ho Chi Minh University of Technology) với mục tiêu nâng cao năng lực NCKH trong công tác đào tạo SĐH. Cho đến nay đã có 34 tiểu dự án được triển khai với nguồn kinh phí từ JICA là hơn hơn 600.000 USD. Kết quả của việc triển khai thành công dự án JICA giai đoạn 2 sẽ tạo tiền đề cho việc xây dựng môi trường NCKH trong trường ĐH thông qua các nhóm nghiên cứu mạnh. Hiện nay Trường có hơn 20 nhóm nghiên cứu mạnh có tiềm lực NCKH &CGCN cao phục vụ đắc lực cho công tác đào tạo SĐH của nhà trường. Ví dụ như nhóm nghiên cứu của GS. Phan Thanh Sơn Nam có khả năng tiếp nhận và đào tạo hàng năm từ 3-5 NCS, 10HVCH với số công bố quốc tế (tạp chí ISI) hàng năm từ 4-6 bài báo…

2.8. Mở rộng liên kết đào tạo với nước ngoài

Đây là mục tiêu phát triển chiến lược của ĐHBK trong quá trình hội nhập quốc tế. Trong số các chương trình liên kết Trường ĐHBK đã và đang thực hiện, có thể kể đến một số chương trình tiêu biểu về sự thúc đẩy trao đổi khoa học giữa đội ngũ giảng viên của các ĐH đối tác, về kết quả đào tạo liên tục trong nhiều năm, đó là chương trình đào tạo kỹ sư chất lượng cao với các đại học của Pháp, chương trình liên kết đào tạo thạc sĩ về Cơ học kết cấu và môi trường liên tục với ĐH Liege (Bỉ) dưới sự tài trợ của Cộng đồng Châu Âu (chương trình EMMC); chương trình đào tạo tiến sĩ ngành Quản trị Kinh doanh SAV (giữa Chính phủ Thụy Sĩ, chính phủ Việt Nam – thông qua trường ĐHBK và AIT, Thái Lan); chương trình liên kết đào tạo thạc sĩ quản trị kinh doanh (MBA) với Trường Masstricht (Hà Lan); chương trình đào tạo thạc sĩ phối hợp cấp bằng đôi với Trường ĐH Kỹ thuật Toyohashi (Nhật Bản) hay chương trình đào tạo phối hợp (30% thời gian tại ĐHBK và 70% tại trường đối tác) bậc thạc sĩ và tiến sĩ với ĐH Nam Queensland (USQ-Úc); Chương trình MBA MCI giữa Đại học Ứng dụng Tây Bắc Thụy sĩ và ĐHBK…. Đến nay đã có hơn 10 chương trình đào tạo phối hợp đã triển khai thành công tại trường ĐHBK với số lượng tốt nghiệp là hơn 20 TS và hơn 700 ThS.

2.9. Công tác xây dựng và đảm bảo cơ sở vật chất phục vụ đào tạo

Các công tác liên quan như các công trình đầu tư nâng cấp hệ thống mạng của Trường; xây dựng các phòng thí nghiệm trọng điểm phục vụ cho nghiên cứu khoa học và đào tạo chuyên ngành như hai phòng thí nghiệm trọng điểm cấp Nhà nước, nhiều phòng thí nghiệm trọng điểm cấp ĐHQG, các phòng thí nghiệm đầu tư chiều sâu; xây dựng mới và nâng cấp hàng chục phòng học, phòng chuyên đề với đầy đủ thiết bị truyền thông đa phương tiện (các loại máy chiếu, máy tính) phục vụ cho các chương trình đào tạo SĐH, các chương trình kỹ sư tài năng, các chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài; đảm bảo kinh phí trang bị đầy đủ và cập nhật thường xuyên nguồn tài liệu và tạp chí ngoại văn cho tất các các chương trình đào tạo chuyên ngành của Trường.

2.10. Tăng cường liên kết, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển kinh tế xã hội tại các địa phương

Trường quan tâm đến chủ trương tăng cường liên kết, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển kinh tế xã hội tại các địa phương trọng điểm vùng Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long cũng như trong các ngành kinh tế trọng điểm. Năm 2004, Trường đã tổ chức lớp đào tạo trình độ thạc sĩ chuyên ngành Công nghệ Hóa học cho Tập đoàn Dầu khí Việt Nam với số lượng là 14 HV. Từ năm 2008, Trường đã tổ chức tuyển sinh đào tạo trình độ thạc sĩ các chuyên ngành quản lý và kỹ thuật cho Tỉnh Lâm Đồng (phục vụ cho việc phát triển kinh tế xã hội vùng Tây Nguyên) và tại Đồng bằng Sông Cửu Long (đặt tại Trường ĐH Cần Thơ). Trong thới gian tới, mô hình đào tạo này sẽ được mở rộng đến vùng kinh tế trọng điểm Nam Trung Bộ (tại Khánh Hòa). Cho đến nay, Trường đã đào tạo hơn 10 Tiến sĩ, 350 Thạc sĩ, góp phần đáng kể cho việng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế xã hội tại các địa phương này.

2.11. Đào tạo SĐH cho các sinh viên quốc tế

Trường bắt đầu đào tạo SĐH cho các sinh viên nước ngoài (từ Nhật Bản, Lào, Campuchia….) từ năm 2001. Cho đến nay số lượng HVCH nước ngoài đã tốt nghiệp là 35 HV. Hiện đang đào tạo 10 HVCH (Lào và Campuchia) và 1 NCS (Campuchia).

Đăng nhập để xem thông tin

Đăng ký

Ví dụ: Nguyễn văn
Ví dụ: Khánh

Đăng ký dự thi online ĐK môn học trình độ Thạc sĩ
cho SV ĐH Bách khoa năm 4